Bấn loạn: Khi con cái tỏ ra hung hãn (Phần 2)

12/04/2010

Rối loạn hành vi ở trẻ phát triển dần dần. Những trẻ có thái độ ngang ngạnh thường cũng sẽ tự cải thiện. Nhưng nếu không có những can thiệp từ bên ngoài, hay trẻ không "tự sửa mình", các triệu chứng sẽ tệ hơn.
Rối loạn hành vi phát triển dần dần. Những trẻ bắt đầu có thái độ tiêu cực hoặc ngang ngạnh thường sẽ cải thiện. Nhưng nếu không có những can thiệp, hoặc bản thân đứa trẻ không tự “ sửa mình”, các triệu chứng sẽ tệ hơn. Những triệu chứng trầm trọng gia tăng này có thể chia thành các giai đoạn. Ở giai đoạn 1, đứa trẻ tỏ ra hung hãn bất thường với người khác, với thú vật. Ở giai đoạn 2, đứa trẻ bắt đầu có những hành động phá phách hoặc gây thiệt hại tài sản hoặc đồ dùng cá nhân của người khác. Ở giai đoạn 3, trẻ bắt đầu có những hành vi lừa dối nghiêm trọng, hay ăn cắp đồ vật. Và ở giai đoạn 4, những trẻ này vi phạm các quy luật hay luật lệ quan trọng, hay nghiện ngập. Những trẻ rơi vào giai đoạn 4 thường không nhiều. Những trẻ này cần sự giúp đỡ chuyên môn tập trung và phải kết hợp nhiều biện pháp, kể cả việc sử dụng thuốc. Chúng còn có thể có những biểu hiện khác như rối loạn thiếu tập trung, những nhược năng học tập, các rối loạn tâm trạng như trầm cảm. Hơn nữa, những trẻ này thường có những vấn đề nghiêm trọng về gia đình, các vấn đề về sức khoẻ, về kinh tế, v.v…

Những trẻ gặp rắc rối nặng có thể làm cha mẹ, thầy cô, và cả những nhà chuyên môn phải khổ tâm vì chúng. Để giúp những trẻ này cần có sự nỗ lực của cả nhiều người. Chẳng cha mẹ, bác sĩ, hoặc thầy cô nào có thể đơn phương giúp gì được. Có điều, việc chữa trị phối hợp này rất tốn kém. Vấn đề của những trẻ này không chỉ ảnh hưởng riêng bản thân chúng mà còn ảnh hưởng cả xã hội nữa. Mà việc chữa trị cần tiến hành từ nhỏ, vì nếu để đến lớn e rằng quá trễ, hiệu quả chữa trị sẽ rất thấp.

Điều nghiêm trọng khác cần lưu tâm là rối loạn tính cách có tính chất lập lờ nguy hiểm. Như đã nói ở trên, chúng ta thường không chẩn đoán trẻ em hoặc thiếu niên bị những rối loạn tính cách, vì tính cách của chúng còn đang được định hình. Tuy nhiên, trong những trường hợp nặng, khi mà các triệu chứng cứ đeo bám dai dẳng (ít nhất là khoảng một năm), lúc ấy có thể nghĩ tới rối loạn tính cách có tính chất lập lờ nguy hiểm.

Rối loạn tính cách có tính chất lập lờ nguy hiểm còn đang là vấn đề tranh cãi gay gắt. Các triệu chứng thường mãnh liệt. Sự căng thẳng tình cảm là dấu hiệu đáng lưu ý của rối loạn tính cách. Những triệu chứng khác bao gồm: các nỗ lực điên rồ để tránh sự bỏ rơi (dù là thật hay tưởng tượng); sự cảm nhận bất ổn về tính đồng nhất của tính cách; khuynh hướng lý tưởng hoá một ai đó, rồi chỉ ít lâu sau lại cực lực chê trách chính người ấy; hành vi xung động, nhất là về vấn đề giới tính, tiền bạc, các loại thuốc gây nghiện, ăn uống, hoặc điều khiển xe; những điệu bộ muốn tự vẫn lặp đi lặp lại; tâm trạng bất ổn; thường có những cảm giác trống rỗng; hay lên cơn giận dữ; và thường bị hoang tưởng lúc căng thẳng.

Rõ ràng, cả loạt những triệu chứng như vậy có thể phát sinh những vấn đề lớn cho những ai mắc vào rối loạn này. Cha mẹ của những trẻ có triệu chứng ban đầu hay bị rối loạn tính cách có tính chất lập lờ nguy hiểm thường tự trách mình vì nghĩ rằng họ đã làm cho đứa con phải chịu sự đau khổ như vậy, khiến cuộc sống thường nhật của họ đều nơm nớp lo lắng không biết bữa nay có nổ ra chuyện gì. Họ phải chịu sự đau khổ lớn, cả ở người thân yêu và cả bản thân họ; từ đó buộc họ phải tìm sự giúp đỡ, buộc họ phải đưa con đi chẩn đoán, và buộc họ phải nhờ đến bác sĩ lâm sàng giỏi chữa trị.

Điều gì xác định đứa con của bạn xưa nay vẫn “đằm tính” mà nay bỗng bị rối loạn về hành xử hay rối loạn tính cách có tính chất lập lờ nguy hiểm? Phải chăng là chịu sự ảnh hưởng của cha mẹ? Rõ ràng một thói hư tật xấu nào đó là do thiếu kỷ cương ở gia đình, hoặc do sự thiếu nhất quán của một phía cha mẹ, nhưng sự dưỡng dục không nói hết được vấn đề. Đâu phải mọi đứa trẻ bị rối loạn về hành xử đều có cha mẹ “tồi”, phần lớn không phải thế. Các nghiên cứu chứng minh rằng có sự ảnh hưởng di truyền rõ ràng cả ở rối loạn về hành xử và rối loạn tính cách có tính chất lập lờ nguy hiểm.

Khi đứa trẻ ngỗ nghịch, chúng ta thường trách cứ cha mẹ (vì cha mẹ ly dị hoặc vì cha mẹ quá khoan dung, dễ dãi, hay không màng gì đến con cái) hoặc xã hội (truyền hình, video, trường học, băng nhóm). Đôi khi chúng ta trách cứ đứa trẻ, nhưng làm thế chúng ta chỉ khơi gợi những kiểu giải thích ban sơ nhất: Chúng ta cho rằng đứa trẻ ấy là “tồi tệ”.

Nhưng trong khi chúng ta làm như thế ,chúng ta bỏ qua nhiều nhân tố. Ví dụ như sự phát triển ngôn ngữ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc đứa trẻ chế ngự sự tức giận và hung hãn của mình. Nếu trẻ không thể biểu hiện tình cảm của chúng qua chữ nghĩa, trẻ dễ trở thành hung bạo. Yếu tố di truyền tác động tính thô bạo: Một số trẻ ít bị ức chế hơn những trẻ khác, và việc thiếu sự kiềm chế đó có thể có cơ sở di truyền. Có những trẻ chịu ảnh hưởng về mặt di truyền hơn những trẻ khác để trở thành những kẻ phạm pháp. Điều này đâu do lỗi của chúng khi có những hành vi sai trái, phạm pháp, vi phạm nội quy, hay bất kỳ sự xâm phạm nào các quyền của người khác. Tuy nhiên, nó gợi cho chúng ta phương cách phụ có tác động mạnh để hiểu chúng, để hiểu rằng chúng ta có thể giúp đỡ chúng và cha mẹ chúng chịu trách nhiệm hữu hiệu hơn. Vấn đề chính là sự trách móc không chỉ ra cách sửa đổi hành vi, mà là kiến thức, sự hiểu biết mới có thể thực hiện việc này.

Câu hỏi đầu tiên về hành vi hung hãn của trẻ là Tại sao? “Tại sao thằng bé nhà chị ngoan ngoãn thế, trong khi thằng bé nhà tôi lại bướng bỉnh như vậy?” một bà mẹ đã phải thắc mắc như thế. “Chẳng hiểu sao thằng bé nhà tôi lại muốn kết bè kết đảng?” một người cha muốn biết lý do. “Không biết những cơn điên ấy từ đâu tới?” một người mẹ khác hỏi.

Thường ra thì câu trả lời nằm ở một trong năm phạm trù sau. Một khi bạn có thể tìm giải pháp theo cách hữu lý. Những nguyên nhân chính gây ra hành vi hung hãn và một số phương pháp chữa trị đối với mỗi nguyên nhân, được tóm tắt trong bảng sau đây:

Nguyên nhân gây ra hành vi hung hãn
Những phương pháp chữa trị khả thi
1. Những nhân tố sinh học và di truyền.
Chế độ ăn uống, ngủ nghỉ, tập luyện, các loại thuốc.
2. Thiếu khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng diễn cảm băng ngôn từ.
Phát triển những kỹ năng ngôn ngữ. Đọc lớn cho con nghe. Giới hạn xem truyền hình và video. Chơi các trò chơi sắp chữ. Chơi đóng vai phản diện.
3. Thiếu kỷ cương (giờ giấc, những quy định, những hoài mong) và sự giám sát.
Phát triển những kỷ cương kiên định và hiệu quả hơn trong cuộc sống của trẻ. Mỗi ngày giúp trẻ có một chương trình làm việc hợp lý.
4. Ảnh hưởng của cha mẹ
Sửa đổi cách xử sự của cha mẹ; phát triển quyền uy trong đời sống của con cái.
5. Nhóm bạn bè
Chú ý về nhóm bạn của con cái. Cần có nhiều bạn bè hơn. Tìm cách biết về cha mẹ của các bạn của con cái. Cùng nhau lập kế hoạch điều chỉnh cuộc sống của con cái.

Đỗ Thị Lệ Hằng – Lê Thu Hiền
(Sưu tầm)

(Hết)