Điểm luận các nghiên cứu nước ngoài về một số yếu tố chủ quan tác động đến hiện tượng lười biếng xã hội

21/12/2017

Trong quá trình hoạt động nhóm, mức độ tham gia của mỗi thành viên trong nhóm sẽ rất khác nhau: có người rất tích cực, nỗ lực, hợp tác… nhưng cũng có người lại tỏ ra thờ ơ, ỷ lại, trì trệ, thiếu trách nhiệm… Những biểu hiện thiếu tích cực trong hoạt động nhóm chính là những biểu hiện của hiện tượng lười biếng xã hội. Một câu hỏi được đặt ra là điều gì, yếu tố nào tác động dẫn đến việc xuất hiện hiện tượng lười biếng xã hội trong hoạt động nhóm? Các kết quả nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy có hai loại yếu tố ảnh hưởng đến lười biếng xã hội, đó là yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ điểm luận những yếu tố chủ quan tác động đến hiện tượng lười biếng xã hội.

Các kết quả nghiên cứu tập trung vào những yếu tố sau:

1/ Sự ghi nhận thiếu công bằng

Nghiên cứu của B. Latane và đồng nghiệp (1979) và James A. Shepperd  (2001) nhận thấy, hầu hết những người đã làm việc trong môi trường nhóm tham gia với mức độ không bằng nhau do nhiều lý do khác nhau: cảm thấy mình bị ẩn mình trong đám đông và tránh những hậu quả tiêu cực khi kết quả công việc không được tốt; hoặc cảm thấy bị hòa lẫn trong đám đông. Nghiên cứu của N. L. Kerr (1989) cho thấy, trong một nhóm lớn, với cá nhân có rất nhiều đóng góp, một số có thể cảm thấy rằng, những nỗ lực của họ không cần thiết hoặc không được công nhận. Thêm nữa, khi chia sẻ phần thưởng, lợi ích thì lại có sự quân bình, nghĩa là không có sự công bằng trong đánh giá. Điều này tạo ra sự thất vọng đáng kể và chút ít phiền toái cho những thành viên mà sự đóng góp của họ nhiều hơn so với những người khác; họ trở nên thờ ơ, chán nản, kém nhiệt tình và thậm chí dẫn dắt đến việc những người này tránh làm việc theo nhóm. Nói cách khác, khi tham gia làm việc trong nhóm, hiệu suất làm việc của cá nhân không được theo dõi riêng, phần thưởng sẽ được chia đều cho cả nhóm, cá nhân thường không nỗ lực hết sức mình; thậm chí dựa dẫm, ỷ lại vào người khác.

2/ Tâm lý thiết lập mục tiêu dưới mức tối đa

Từ thực nghiệm của B. Latane và đồng nghiệp (1979), những người tham gia cho rằng tạo ra tiếng ồn là một nhiệm vụ tối ưu hóa, chứ không phải là nhiệm vụ tối đa hóa, họ thấy rằng mức độ tối ưu của âm thanh đạt được dễ dàng hơn khi làm việc trong một nhóm. Do đó, họ cho phép mình ít nỗ lực hơn. Nói cách khác, khi có sự trợ giúp của người khác, các cá nhân mong chờ việc thực hiện nhiệm vụ trở nên dễ dàng hơn và dẫn đến hệ quả họ làm việc kém chăm chỉ hơn.

3/ Tâm lý không cần thiết phải nỗ lực

Nghiên cứu của N. L. Kerr và S. E. Bruun (1983) cho rằng, các thành viên trong nhóm ít nỗ lực hơn khi làm việc chung vì họ cảm thấy, sự nỗ lực của cá nhân họ không cần thiết cho sản phẩm chung. Nghiên cứu của Hwee Hoon, Tan Min Li Tan (2008) cũng cho thấy, ý thức tiêu cực có tác động đến sự lười biếng xã hội. Khi thành viên nhóm không thấy rằng nỗ lực của mình là chính đáng trong bối cảnh chung của nhóm, họ sẽ ít sẵn sàng nỗ lực

4/ Động cơ tham gia của cá nhân

Động cơ tham gia hoạt động của cá nhân ảnh hưởng tới hành vi của họ trong nhóm. S. J. Karau và K. D. Williams (1993) đưa ra mô hình nỗ lực tập thể, kết quả cho thấy, người có động cơ cao dễ chịu hiệu ứng khích lệ xã hội, người có động cơ thấp dễ tham gia vào hiệu ứng lười biếng. Hai yếu tố xác định động cơ của cá nhân là những kì vọng của cá nhân về việc đạt được mục tiêu và những giá trị nhận được từ mục tiêu. Động cơ ở mức cao nhất khi cá nhân tin rằng mục tiêu dễ đạt được và rất có giá trị. Ngược lại, động cơ ở mức thấp nhất khi cá nhân nghĩ rằng mình sẽ không thể đạt được mục tiêu và mục tiêu đó ít có giá trị với bản thân. Ngoài ra, được coi như một động cơ, nhu cầu nhận thức có liên quan tới lười biếng xã hội trong hoạt động nhóm. Nghiên cứu của Brian N. Smith, Natalie A Kerr, Michael J Markus, Mark F Stasson ( 2001) cho thấy, cá nhân có nhu cầu nhận thức cao sẽ nỗ lực nhiều hơn và có mức lười biếng xã hội thấp hơn so với người có nhu cầu nhận thức thấp.

Đề cập tới vai trò của động cơ đối với mức độ tham gia và nỗ lực của cá nhân trong hoạt động nhóm, N. L. Kerr và S. E. Bruun (1983) cho rằng, khi cá nhân đã mất động cơ trong hoạt động chung, họ sẽ ít nỗ lực hơn vì cảm thấy sự nỗ lực của họ không cần thiết cho kết quả nhóm. Pcice (1993) cũng cho rằng, xảy ra tình trạng lười biếng ở mức độ cao trong khi thực hiện nhiệm vụ là do nhiệm vụ đó không có động cơ hoặc không có ý nghĩa (dẫn theo Avan Jassawalla, Hemant Sashittal, Avinash Sashittal, 2009).

Tài liệu tham khảo

1.     Hwee Hoon, Tan Min Li Tan (2008). Organizational Citizenship Behavior and Social Loafing: The Role of Personality, Motives, and Contextual Factors. The Journal of Psychology: Interdisciplinary and Applied,  Vol 142, Iss 1, p. 89-108.

2.     N. L. Kerr (1989). Illusions of efficacy: The effects of group size on perceived efficacy in social dilemmas. Journal of Experimental Social Psychology, Vol 25, Iss 4, pp. 287-313

3.     Brian N. Smith, Natalie A Kerr, Michael J Markus, Mark F Stasson ( 2001). Individual differences in social loafing: Need for cognition as a motivator in collective performance. Group Dynamics: Theory, Research, and Practice, Vol 5(2),  pp. 150-158.

4.     James A. Shepperd  (2001). Chapter: Multiple Perspectives on the Effects of Evaluation on Performance, p.1-24 in “Social Loafing and Expectancy-Value Theory” Publisher: Springer US.

5.     Norbert L. Kerr & Steve E. Bruun (1983). Dispensability of member effort and group motivation losses: Free-rider effects. Journal of Personality and Social Psychology, 44(1), 78-94.  

6.     Avan Jassawalla, Hemant Sashittal, Avinash Sashittal (2009). Students' Perceptions of Social Loafing: Its Antecedents and Consequences in Undergraduate Business Classroom Teams. Acad Manag Learn Edu,  Vol. 8, No. 1, pp 42-54.

7.     Bibb Latané; Kipling Williams; Stephen Harkins (1979). Many hands make light the work: The causes and consequences of social loafing. Journal of Personality and Social Psychology 37 (6): 822–832.

8.     Steven J Karau, Kipling D Williams (1993). Social loafing: A meta-analytic review and theoretical integration. Journal of Personality and Social Psychology, 65 (4): 681–706.

Minh Thu