MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

13/08/2018

(Tamly) - Mô hình nghiên cứu là công cụ để thể hiện mối quan hệ của các nhân tố cần được phát hiện và kiểm chứng trong phạm vi đề tài nghiên cứu.

 

Trong nghiên cứu định lượng, xây dựng mô hình nghiên cứu là bước quan trọng giúp nhà nghiên cứu định hình rõ nét các công việc phải làm, cái đích cần hướng đến của nghiên cứu.

Mô hình nghiên cứu là gì?

Mô hình là công cụ kỹ thuật thể hiện mối quan hệ có tính hệ thống, mang tính qui luật giữa các nhân tố (biến số) một cách đơn giản nhất. Mô hình có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, đặc biệt trong công việc, giúp con người hình dung ra vấn đề đơn giản hơn.

Trong hoạt động nghiên cứu, vốn là một quá trình tìm đến những tri thức mới, thì mô hình nghiên cứu là công cụ để thể hiện mối quan hệ của các nhân tố cần được phát hiện và kiểm chứng trong phạm vi đề tài nghiên cứu.

Mô hình nghiên cứu có thể được diễn đạt dưới dạng phương trình hoặc hình. Trong nghiên cứu tâm lý học, mô hình nghiên cứu có thể biểu diễn dưới dạng hình như ví dụ dưới đây.

Đây là dạng mô hình đơn giản, với 3 biến độc lập (nhân tố 1, 2 và 3) và 1 biến phụ thuộc. Mô hình thể hiện mối quan hệ giữa từng biến độc lập với biến phụ thuộc. Có những nghiên cứu có mô hình phức tạp hơn thể hiện các mối quan hệ đa biến.

Vai trò của mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu có tính định hướng. Ít nhất, nó có vai trò trong những vấn đề sau.

•         Xác định các nhân tố/ lĩnh vực  cần thu thập thông tin

•         Xác định mối quan hệ cần phân tích/ kiểm định giữa các biến số

•         Giúp hình dung những nội dung cơ bản của tổng quan tài liệu, khung lý luận và khung phân tích của đề tài nghiên cứu

Giả sử nghiên cứu về các yếu tố trường học tác động đến cảm nhận hạnh phúc ở trường của học sinh, trong đó các biến độc lập gồm các nhân tố học tập, giáo viên, bạn bè, cá nhân học sinh và nhà trường. Ta có mô hình nghiên cứu sau:

Mô hình này định hướng cho việc xây dựng bộ công cụ nghiên cứu để thu thập thông tin. Bộ công cụ đó phải bao gồm các biến số/ thang đo lường yếu tố liên quan đến học tập (ví dụ, kết quả học, lượng bài học, áp lực về thành tích…), giáo viên (năng lực nghề, thái độ nghề, ứng xử đối với học sinh…), bạn bè (sự hỗ trợ, tin tưởng, chân thành, thân thiết…), nhà trường (cơ sở vật chất, điều kiện học tập tại trường …) và cá nhân học sinh (tự đánh giá, nhu cầu thành tích ….) và thang đo lường cảm nhận hạnh phúc ở trường

Mô hình cũng giúp xác định mối quan hệ nhân quả giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc.

Từ mô hình này, ta có thể hình dung phần tổng quan tài liệu phải bao gồm nội dung ảnh hưởng của các nhân tố ở trên đến hạnh phúc của học sinh đã được các tác giả khác nghiên cứu và chỉ ra những kết quả gì, bằng phương pháp nào, theo các lý thuyết nào…

Bằng mô hình này, nhà nghiên cứu có thể giới thiệu một cách ngắn gọn đơn giản nội dung, trọng tâm nghiên cứu của mình với người đọc mà mang tính hiệu quả cao

Các thành phần của mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu gồm 2 thành phần chính: đó là các nhân tố/ biến số và môi quan hệ.

Các loại biến số

Nếu phân theo chức năng của biến số trong mô hình nghiên cứu, có thể có các loại biến số sau:

•      Biến độc lập và biến phụ thuộc: trong đó biến số phụ thuộc là biến số cần phải giải thích, chịu sự tác động của một hay nhiều biến số khác. Còn biến số độc lập là biến số giải thích cho biến số phụ thuộc. Khác biệt giữa biến số độc lập và biến số phụ thuộc chỉ có tính chất tương đối.

•      Biến kiểm soát và biến gây nhiễu: Biến số kiểm soát (control variable) là biến số cần được kiểm soát để làm giảm tác động gây nhiễu có thể có của nó đối với các biến số khác trong nghiên cứu. Đồng thời xem xét biến số này có thể làm giảm nguy cơ giải thích sai cho những biến số độc lập không chịu trách nhiệm cho sự biến đổi của biến số phụ thuộc.

•      Biến trung gian

•      Biến điều tiết

Nếu phân theo tính chất số của biến số thì có thể có các loại biến:

•      Biến định lượng và biến định tính

•      Biến rời rạc và biến liên tục

Dựa vào chức năng biến số, nhà nghiên cứu cần xác định các mối quan hệ giữa chúng. Còn dựa vào tính chất số thì nhà nghiên cứu có thể xác định các phép phân tích cần thiết để kiểm định môi quan hệ giữa chúng.

Việc xác định các loại biến số này phụ thuộc nhiều vào khung lý luận của đề tài, gồm các luận điểm mang tính lý thuyết mà nghiên cứu cần kiểm chứng.

Trong các nghiên cứu xã hội, mỗi hiện tượng xã hội được điều tra thường đòi hỏi sự đánh giá tác động của vài biến số độc lập. Một điểm nữa cũng cần lưu ý rằng mỗi biến số độc lập chỉ giải thích được một khía cạnh của biến số phụ thuộc mà thôi.

Các mối quan hệ

Trong phân tích dữ liệu, có thể có các mối quan hệ sau đây giữa các biến số

•      Quan hệ đồng thời: Cùng với sự xuất hiện của biến số này là sự xuất hiện của một hay vài biến số khác

•       Quan hệ nhân quả: Biến độc lập là nguyên nhân của biến phụ thuộc hoặc biến phụ thuộc là kết quả của biến độc lập. Hoặc cũng có trường hợp, sự kết hợp của các biến số là nguyên nhân của biến thứ ba…

Quan hệ đồng thời có hai đặc điểm. Đó là chiều hướng và độ lớn

•      Chiều hướng: Nói lên chiều hướng thuận (dương) hay nghịch (âm) của mối quan hệ.

•      Độ lớn: Nói lên mức độ biến đổi của các biến theo chiều thuận hay chiều nghịch.

Quan hệ nhân quả cần 3 điều kiện để chứng minh

•      Nguyên nhân có trước kết quả

•      Nguyên nhân tác động vào kết quả và làm thay đổi kết quả

•      Tác dộng của biến thứ ba không làm thay đổi mối quan hệ nhân - quả

Quan hệ nhân quả là mối quan hệ cần phát hiện trong các nghiên cứu khoa học, nhất là các nghiên cứu có hàm ý chính sách (để xây dựng chính sách, hoàn thiện chính sách). 

HuongPM

Các tin cũ hơn.............................