Võ Văn Kiệt, tấm gương mẫu mực của một nhà lãnh đạo

19/09/2022

Tham gia cách mạng từ trước năm 1945, trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ và anh dũng cùng dân tộc, đồng chí Võ Văn Kiệt đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Ðảng và Nhà nước ta trong giai đoạn quan trọng của thời kỳ Ðổi mới. Tài năng, nhân cách và những cống hiến của đồng chí là một tấm gương để chúng ta học tập và noi theo. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh đồng chí Võ Văn Kiệt, Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu bài viết của GS Trần Thành về một người cộng sản đã dành cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng, vì đất nước. Ban Biên tập website xin giới thiệu lại bài viết này.

Theo tôi hiểu, trước hết, đồng chí Võ Văn Kiệt là một người lăn lộn và trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cùng nhân dân. Gia nhập cách mạng từ năm 16 tuổi, làm công tác vận động quần chúng và tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa. Sau khi khởi nghĩa thất bại, đồng chí thoát ly vào căn cứ, từng bước trưởng thành, từ cán bộ cơ sở, huyện, tỉnh, Xứ ủy viên Nam Bộ, Ủy viên Trung ương cục miền nam, rồi tham gia Bộ Chính trị. Ðến tháng 3-1988, đồng chí được cử làm quyền Chủ tịch, sau đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Thủ tướng Chính phủ. Khi ấy, đồng chí đã có hơn 50 năm trải nghiệm qua các lĩnh vực hoạt động như: vận động chính trị, đấu tranh vũ trang, xây dựng và phát triển kinh tế... ở lĩnh vực nào đồng chí cũng có cống hiến nổi bật. Những năm tháng lăn lộn trong dân, ăn cơm, mặc áo của dân, được dân cưu mang, che chở, cho nên đồng chí thấu hiểu được nỗi cực khổ cùng tâm tư và khát vọng giản dị của họ, sau độc lập - tự do là miếng cơm, manh áo, ruộng cày. Sống trong dân, đồng chí học được nhiều ở trí tuệ của dân. Ðó là những người có cái nhìn rất sáng về cái đúng, cái sai, cái trúng, cái trật của cách mạng. Ðồng chí rút ra bài học: Cái gì được dân đồng tình, ủng hộ là ta đúng, cái gì bị dân phản đối là ta sai. Ðồng chí hành xử theo cái "minh triết" ấy của người dân. Niềm tin của đồng chí được củng cố sâu sắc thêm qua lời căn dặn của Bác Hồ: "nhân dân rất thông minh", và một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt là chính quyền "được lòng dân", "ta đừng có làm gì trái ý dân,  dân muốn gì ta phải làm nấy". Ðiều đó tạo cho đồng chí niềm tin, lòng dũng cảm, để trong chỉ đạo  đấu tranh vũ trang ở  ở Khu IX sau Hiệp định Pa-ri, đồng chí đã vượt qua các "mệnh lệnh" chủ quan, không sát hợp với thực tế chiến trường và tuyên bố: "Mệnh lệnh tối cao lúc này là phải giữ đất, giữ dân. Nếu không chống địch lấn chiếm, để mất đất, mất dân lúc này là mất tất cả". Thực tế xác nhận đồng chí đã hành động đúng. Cũng như vậy, cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, đối với đồng chí, mệnh lệnh tối cao lúc đó là "cứu đói cho dân, cứu nguy cho nền kinh tế thành phố" và đồng chí đã vượt qua cơ chế quan liêu, bao cấp, cho phép thí điểm cách làm ăn mới trong sản xuất kinh doanh, lưu thông phân phối,... từ đó tạo đà cho TP Hồ Chí Minh bước vào thời kỳ phát triển năng động, góp phần không nhỏ làm thay đổi tư duy kinh tế cũ, tạo cơ sở cho sự hình thành đường lối đổi mới của Ðảng tại Ðại hội VI. Có thể nói, trí tuệ của đồng chí bắt nguồn từ trí tuệ của  dân. Ðồng chí dám nói, dám làm, bởi đồng chí không có tham vọng cá nhân, tất cả đều vì dân, cho dân. Phải chăng do vậy mà người ta gọi đồng chí một cách thân mật là Sáu Dân?

Thứ hai, phải xem đồng chí là một trí thức bẩm sinh, bởi không phải ai sống với dân cũng biết học hỏi dân. Ðồng chí được trời phú cho một trí tuệ mẫn cảm, ham học hỏi, ưa tìm tòi cái mới, cho nên chủ động tìm đến mọi nguồn tri thức để tự hoàn thiện mình. Ðồng chí có tư duy cởi mở, có "con mắt xanh" trong phát hiện và sử dụng trí thức, người tài, không phân biệt cũ - mới, miễn là họ có hiểu biết sâu về những lĩnh vực đang còn rất mới đối với đồng chí. Khiêm tốn lắng nghe họ trình bày và tranh cãi, rồi tinh tường lựa chọn lấy những điều có thể áp dụng vào từng hoàn cảnh cụ thể, nghĩa là vừa biết làm học trò, vừa biết đứng trên vai người khác, để có được tầm vóc cao hơn họ.

Ðó là những nhân tố góp phần hình thành nên ở đồng chí một tư duy chính trị nhạy bén trước bước ngoặt đầy kịch tính của lịch sử. Thời kỳ Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu sụp đổ, bằng cảm quan chính trị nhạy bén, đồng chí sớm nhận ra rằng lịch sử đã sang trang, thời thế đã thay đổi, đồng chí nói với những người gần gũi: "Thế giới ngày nay cần phải được hiểu theo cách mới, mọi suy nghĩ, ứng xử không thể nhất nhất như xưa, ta phải biết tự tìm ra con đường đi cho đất nước mình". Muốn thoát khỏi tình thế nguy nan, Việt Nam phải có tư duy chính trị mới, phải biết tạo dựng những  mối quan hệ mới, tìm ra những đối tác mới nếu không muốn bị chìm nghỉm trong một thế giới đang cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát triển. Ðồng chí cũng là một trong những người đi tiên phong trong đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta. Trên cương vị của mình, đồng chí đã cùng đồng sự tìm tòi, đưa ra nhiều chính sách có tính đột phá như: xóa bỏ chỉ tiêu pháp lệnh, trao quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh; thực hiện thương mại hóa tư liệu sản xuất, cho phép các doanh nghiệp lớn, cả trung ương và địa phương, được trực tiếp xuất nhập khẩu, chấm dứt tình trạng hai giá; xóa bỏ chế độ thu mua nghĩa vụ áp đặt với nông dân, bãi bỏ ngăn sông cấm chợ, thực hiện tự do lưu thông hàng hóa trong cả nước... chuyển dần nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường, đưa đời sống kinh tế đất nước đi dần vào thế ổn định. Cũng cần kể ra đây, các công trình mang "dấu ấn thời kỳ Võ Văn Kiệt" như thau chua, rửa phèn cho vùng Ðồng Tháp Mười và tứ giác  Long Xuyên, biến ruộng một vụ thành hai vụ, đưa năng suất lên cao nhất nước; công trình đường  dây  tải điện 500 kV Bắc - Nam điều hòa lượng điện quốc gia; công trình đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài để mở rộng cửa ngõ Thủ đô,... Không phải ngay từ đầu những công trình này đã nhận được sự đồng thuận, nhưng nhờ sự quyết đoán và khả năng "truyền lửa" của đồng chí mà nhiều công trình đã hoàn thành trước thời hạn, đi vào sử dụng, phát huy ngay hiệu quả.

Sau ngày về hưu, có điều kiện khảo sát thực tế nhiều hơn, lại trao đổi rộng rãi hơn với các chính khách, chuyên gia trong và ngoài nước, cho nên đồng chí có thể nhìn nhận tình hình, góp ý với Ðảng nhiều hơn. Theo đồng chí, "một trong những thách thức là sự phát triển kinh tế của chúng ta vẫn tiếp tục lệ thuộc một chiều vào thế giới bên ngoài. Lệ thuộc vốn đầu tư, làm gia công và thương hiệu. Nước nào cũng lệ thuộc lẫn nhau, nhưng vấn đề là ở chỗ làm sao chuyển từ lệ thuộc một chiều và thụ động, sang sự lệ thuộc hai chiều và chủ động". Ðồng chí thừa nhận hoạt động từ thiện ở nước ta khá rầm rộ, nhưng từ thiện không thể thay chính sách, những người thực tâm muốn giúp đỡ người nghèo thường không chọn cách phô trương ồn ào để mua danh với thiên hạ. Ðồng chí nói: "Chăm lo cho người nghèo hiện nay không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ, mục đích của một Ðảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân", vì vậy, "phải có những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo". Ðồng chí đề nghị chúng ta nên nghiên cứu, tham khảo cách làm của những quốc gia phát triển, sau nhiều lần tự điều chỉnh, ở đó người lao động, người nghèo đã được hưởng một chế độ phúc lợi khá cao, nhờ đó tạo ra một xã hội an sinh, ổn định để phát triển.

Trong đổi mới tư duy, đồng chí cũng rất quan tâm vấn đề đổi mới tư duy lý luận. Ðồng chí không phải là người sính lý luận nhưng đồng chí không coi thường lý luận, vì đồng chí hiểu lý luận là nền tảng, là phương hướng chỉ đạo mọi đường lối, chủ trương, chính sách,... của Ðảng và Nhà nước. Nhờ có lý luận cách mạng tiên tiến mà cách mạng Việt Nam từng bước giành được thắng lợi vẻ vang. Ðồng chí trung thành và kiên định Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, một sự trung thành sáng suốt. Ðồng chí hiểu, lý luận là những nguyên lý chung, còn vận dụng như thế nào cho phù hợp với thực tế từng nơi, từng lúc, lại phụ thuộc vào tầm văn hóa chính trị, vào nhận thức, phương pháp và phong cách tư duy của người lãnh đạo. Theo đồng chí, nội hàm của mọi khái niệm lý luận không đứng im, bất biến mà đều vận động và được bổ sung bằng thực tiễn phát triển của lịch sử. Qua ý kiến và lập luận của đồng chí, có thể thấy tư duy chính trị của Võ Văn Kiệt là toàn diện, sâu sắc, nhạy bén và có tầm chiến lược; phản ánh khát vọng cháy bỏng của đồng chí trong việc tìm tòi con đường đi cho dân tộc ở thời điểm chuyển biến đầy khó khăn. Tâm nguyện của đồng chí là: một dân tộc đã trải qua bao gian khổ, hy sinh, mất mát để  giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, dân tộc ấy phải được sống hạnh phúc trong độc lập và tự do, được hưởng "công bằng, dân chủ, văn minh" như mọi dân tộc tiên tiến trên thế giới. Ðồng chí có trí tuệ lớn là bởi đồng chí có trái tim lớn. Do đó, nói tư duy chính trị Võ Văn Kiệt, suy đến cùng vẫn là nói về tấm lòng yêu nước thương dân, đến chủ nghĩa nhân văn cao cả và sâu sắc của đồng chí, một phẩm chất mà đồng chí đã suốt  đời âm thầm rèn luyện, noi theo người thầy vĩ đại và tôn kính của mình. Ðồng chí là hình ảnh cao đẹp về một nhà lãnh đạo đã giành được chiến thắng trước những thử thách khốc liệt, đầy cám dỗ của thời buổi kinh tế thị trường, để mãi mãi là một người cộng sản chân chính trong trái tim của nhân dân.

GS. Trần Thành

 

(tuyengiao.vn)