Nhu cầu của nữ trí thức (tiếp)

13/12/2010

(Tamly) - Định hướng giá trị công việc ở nữ trí thức không khác nhiều so với nam trí thức. Sự khác biệt rõ nhất chỉ xuất hiện ở giá trị được thể hiện bản thân trong xã hội.

4. Mong muốn về kiểu loại việc làm

Có thể thấy rõ nhu cầu của nữ trí thức về việc làm thông qua việc lựa chọn của họ từng cặp giá trị của việc làm. Nghiên cứu đưa ra 6 cặp giá trị việc làm sau:
1.
a. Việc làm có thể không ổn định, nhưng có thu nhập cao.
b. Việc làm ổn định dù thu nhập có thấp hơn.
2.
a. Công việc bận rộn, nhiều áp lực, nhưng có thu nhập cao.
b. Công việc nhàn nhã, dù thu nhập có ít hơn.
3.
a. Công việc gì cũng được, miễn là cảm thấy hứng thú.
b. Công việc có thể không thích lắm, nhưng có khả năng đem lại nhiều cơ hội thăng tiến.
4.
a. Công việc khẳng định được bản thân trong xã hội.
b. Công việc đảm bảo cuộc sống bản thân và gia đình là đủ.
5.
a. Công việc phát huy được năng lực của bản thân.
b. Công việc nhàn nhã và ổn định.
6.
a. Công việc mà qua đó ông (bà) được thể hiện những tư tưởng của mình.
b. Công việc gì cũng được, miễn là đảm bảo cuộc sống cá nhân và gia đình.

Trên cơ sở các kết quả khảo sát thực tiễn, có thể thấy nhu cầu về việc làm của nữ trí thức thể hiện qua định hướng giá trị công việc có một số nét nổi bật sau đây:

- Phần lớn nữ trí thức (khoảng 2/3) coi trọng tính ổn định của công việc hơn là có mức thu nhập cao nhưng công việc có tính rủi ro.
- Phần lớn nữ trí thức (khoảng 2/3) ưa thích công việc bận rộn, có nhiều áp lực đi liền với thu nhập cao hơn là công việc nhàn cùng với thu nhập thấp.
- Phần lớn nữ trí thức (khoảng 2/3) coi trọng hứng thú trong công việc hơn cơ hội thăng tiến.
- Phần lớn nữ trí thức (khoảng 2/3) mong muốn công việc mà qua đó được thể hiện bản thân, chứ không đơn thuần chỉ là làm việc để kiếm sống.
- Phần lớn nữ trí thức (hơn 90%) mong muốn những công việc dù vất vả, nhưng phát huy được năng lực của bản thân hơn là những công việc nhàn hạ, ổn định.
- Việc khẳng định được bản thân trong xã hội và việc có thu nhập đảm bảo cuộc sống gia đình là hai giá trị có sự phân hoá rõ rệt trong nữ trí thức: Một bộ phận nữ trí thức trội hơn (52,8%) đề cao giá trị của việc khẳng định bản thân trong xã hội, một bộ phận nhỏ hơn (47,2%) lại đề cao giá trị thu nhập đảm bảo cuộc sống gia đình và bản thân.
Định hướng giá trị công việc như vậy ở nữ trí thức không khác nhiều so với nam trí thức. Sự khác biệt rõ nhất chỉ xuất hiện ở giá trị được thể hiện bản thân trong xã hội. Nam trí thức coi trọng giá trị này hơn nữ trí thức.
Những nghiên cứu cụ thể hơn về định hướng giá trị công việc của nữ trí thức theo các tiêu chí ngành nghề, tuổi, thâm niên công tác đã cho thấy những số liệu đáng quan tâm.
- So sánh giữa các loại hình nghề nghiệp khác nhau, thấy rằng nhiều người làm trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, nghiên cứu khoa học tự nhiên, ứng dụng tri thức khoa học (y, dược...) sẵn sàng chấp nhận những công việc vất vả, có tính rủi ro cao để có thu nhập cao, để có được cơ hội thăng tiến trong nghề hơn những người làm trong lĩnh vực quản lý xã hội, nghiên cứu khoa học xã hội hay giảng dạy đại học.
- Nếu các giá trị như có cơ hội được khẳng định bản thân, được phát triển và thể hiện năng lực, được thể hiện những ý tưởng sáng tạo của mình trong hoạt động nghề nghiệp không có những thay đổi rõ rệt khi xét theo độ tuổi và thâm niên công tác, thì trong nhìn nhận các giá trị còn lại tình hình lại không như vậy. Càng nhiều tuổi, làm việc trong nghề càng nhiều năm, nữ trí thức càng coi trọng tính ổn định và giá trị hứng thú của công việc, ít chú ý hơn đến cơ hội thăng tiến mà coi trọng hơn cơ hội khẳng định bản thân và càng không muốn những công việc chịu quá nhiều áp lực,
Các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy mỗi cá nhân có nghề nghiệp khác nhau, tuổi và thâm niên công tác khác nhau có nhu cầu khác nhau về công việc. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để phát huy tối đa tiềm lực con người để mỗi cá nhân nữ trí thức có thể học tập, nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, không ngừng tạo ra những giá trị mới, những bước tiến mới trong công việc và cuộc sống mà vẫn không cảm thấy quá mệt mỏi vì công việc. Đây là một vấn đề khó, liên quan đến việc thay đổi định hướng giá trị công việc và cuộc sống của cá nhân. Điều này cần được cân nhắc và nghiên cứu kỹ lưỡng.
Hương Lê