Nhu cầu của nữ trí thức (tiếp)

13/12/2010

(Tamly) - Nữ trí thức mong muốn được sống trong môi trường an toàn, không ô nhiễm, thực hiện công bằng trên cơ sở cống hiến đi liền với phúc lợi xã hội tốt trên cơ sở thuế thu nhập. Những yêu cầu đó dường như được coi trọng hơn yếu tố kinh tế, dù hiện nay mức sống của người Việt Nam nói chung và của nữ trí thức nói riêng chưa cao.

3. Nhu cầu của nữ trí thức về môi trường xã hội của cuộc sống

Để tìm hiểu nhu cầu của nữ trí thức về môi trường xã hội mà họ mong muốn được sống, nghiên cứu đã sử dụng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn sâu. Bảng hỏi là công cụ chính, trong đó đưa ra những mô hình xã hội để người trả lời lựa chọn mô hình mình ưa thích. Các mô hình xã hội liên quan đến các mặt khác nhau: qui chế quản lý nới lỏng hay chặt chẽ đối với phát triển các hoạt động dịch vụ kinh tế - xã hội và kiểm soát tệ nạn xã hội; phúc lợi xã hội và mức thuế tương ứng; qui chế quản lý và trách nhiệm dân sự cá nhân, phân phối thu nhập theo kiểu cào bằng hay theo hiệu quả công việc tạo ra tính cạnh tranh, phát triển kinh tế hay bảo vệ môi trường.. Có 6 cặp mô hình xã hội, mỗi cặp là hai mô hình xã hội đối lập nhau một cách tương đối và là 2 đầu múp của thang đo 5 mức độ ứng với mức độ mong muốn của người trả lời. Cách chia thang mức độ này đảm bảo sự lựa chọn của người trả lời không mang tính khiên cưỡng. Có các cặp mô hình xã hội sau:
1.
a. Một xã hội trong đó nới lỏng các quy chế quản lý xã hội nhằm thúc đẩy phát triển các hoạt động dịch vụ kinh tế - xã hội, cho dù điều đó có thể làm cho các tệ nạn xã hội nhiều hơn ở mức độ nào đó.
b. Một xã hội trong đó tăng cường các quy chế quản lý xã hội nhằm giảm thiểu tệ nạn xã hội, cho dù điều đó có thể làm giảm nhịp độ phát triển các loại dịch vụ kinh tế - xã hội ở mức nào đó.
2.
a. Một xã hội có phúc lợi xã hội rộng rãi, nhưng thuế cao.
b. Một xã hội với thuế thấp và các cá nhân phải tự lo với những rủi ro trong cuộc sống cá nhân của mình.
3.
a. Một xã hội đảm bảo được an ninh và ổn định thông qua các quy chế phù hợp.
b. Một xã hội có ít quy chế và mỗi người phải chịu trách nhiệm với chính hành động của mình.
4.
a. Một xã hội có mức chênh lệch thu nhập trong xã hội nhỏ, hiệu quả lao động chỉ là một tiêu chí có ý nghĩa vừa phải trong phân phối thu nhập.
b. Một xã hội cạnh tranh, nơi thu nhập phân phối chủ yếu trên cơ sở hiệu quả lao động.
5.
a. Nhanh chóng tăng tốc độ phát triển kinh tế, cho dù điều đó có thể làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng hơn ở mức độ nào đó.
b. Quan tâm bảo vệ môi trường, cho dù điều đó có làm giảm tốc độ phát triển kinh tế của đất nước ở mức độ nào đó.
6.
a. Ông (bà) sẽ đóng góp một phần thu nhập nếu biết chắc chắn rằng số tiền đó sẽ được dùng để chống ô nhiễm môi trường.
b. Chính phủ phải quan tâm đến việc bảo vệ môi trường, nhưng không được tăng thuế đối với người dân.

Việc phân tích dữ liệu dựa chủ yếu vào phân bố tần xuất các lựa chọn của người trả lời và điểm trung bình trong thang mức độ với điểm cao nhất bằng 5 ứng với việc chọn phương án (b) và thấp nhất bằng 1 ứng với việc lựa chọn phương án (a). Kết quả thu được phản ánh định hướng giá trị về môi trường xã hội mà nữ trí thức Việt Nam hiện nay mong muốn.
Các kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu của nữ trí thức về môi trường xã hội mà họ mong muốn được sống và làm việc có những biểu hiện khá tập trung, thống nhất, song cũng có những biểu hiện tương đối phân tán, thể hiện tính đa dạng trong nhu cầu này của họ. Phần lớn nữ trí thức (78,8%) mong muốn được sống trong một xã hội, nơi mà môi trường được chú trọng bảo vệ, dù điều đó có làm giảm phần nào tốc độ phát triển kinh tế; phần lớn trong số họ (80,5%) mong muốn được làm việc ở những nơi coi trọng hiệu quả lao động của mỗi cá nhân và xem đó là tiêu chi quan trọng trong phân phối thu nhập. Như vậy, họ chấp nhận phân hoá giàu nghèo và coi trọng tính công bằng dựa trên mức đóng góp của mỗi cá nhân cho xã hội. Phần lớn trong số họ (63,8%) mong muốn duy trì những quy chế quản lý xã hội nghiêm ngặt nhằm đảm bảo an toàn xã hội cho tất cả mọi người. Họ có xu hướng hơi nghiêng về hướng giảm thiểu chênh lệch thu nhập của các cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động của hệ thống phúc lợi xã hội và hệ thống thuế (49,3%); Tuy nhiên nữ trí thức khá phân tán trong việc nhìn nhận trách nhiệm cá nhân trong bảo vệ môi trường.
Những số liệu nêu trên cho thấy nữ trí thức mong muốn được sống trong môi trường an toàn, không ô nhiễm, thực hiện công bằng trên cơ sở cống hiến đi liền với phúc lợi xã hội tốt trên cơ sở thuế thu nhập. Những yêu cầu đó dường như được coi trọng hơn yếu tố kinh tế, dù hiện nay mức sống của người Việt Nam nói chung và của nữ trí thức nói riêng chưa cao.
Lê Hương