Quan hệ tình dục vợ chồng và mối tương quan của nó với sự hài lòng về đời sống hôn nhân trong gia đình ở nông thôn hiện nay(qua khảo sát tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) - Phần cuối

05/10/2010

(Tamly) - Người dân xã Phù Linh có hài lòng về đời sống hôn nhân của mình không? Mức độ hài lòng về đời sống tình dục có ảnh hưởng như thế nào đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân nói chung? Câu trả lời nằm trong phần này.
2.4. Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân hiện nay và tự đánh giá về gia đình của người trả lời (theo %)

2.4.1. Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân hiện nay

- Kết quả thống kê cho thấy hơn một nửa số người được hỏi rất hài lòng về gia đình của họ (54,6%); gần một nửa trả lời phần lớn hài lòng về gia đình mình (41,1%); chỉ có 3,8 % trả lời phần lớn không hài lòng và 0,3% (1 người nữ giới) trả lời rất không hài lòng; 1 người khó trả lời về câu hỏi này (nam giới). Kết quả này cho thấy, trong suy nghĩ về gia đình mình người nông dân Sóc Sơn có thái độ rất lạc quan.

2.4.2. Đánh giá của người trả lời về gia đình của họ

- Kết quả thống kê ở cho thấy một nửa số người được hỏi trả lời gia đình của họ tương đối hoà hợp hạnh phúc (52,4%), gần một nửa cho rằng gia đình họ rất hoà hợp hạnh phúc (44,1%), chỉ có 2,4 % cho rằng gia đình họ không hoà hợp hạnh phúc.

- So sánh quan điểm giữa nam và nữ, bằng cách xét tương quan 3 biến (biến giới tính, biến học vấn và biến độ tuổi), sử dụng biến kiểm soát là biến học vấn, kết quả cho thấy, có sự khác biệt trong đánh giá giữa nam và nữ có trình độ học vấn dưới lớp 10 (α = 0.01). Cụ thể: tỷ lệ nam cho rằng gia đình mình rất hoà hợp hạnh phúc cao hơn nữ (nam: 51,2%; nữ: 35,3%), tỷ lệ nữ cho rằng gia đình mình chỉ tương đối hoà hợp cao hơn nam (nữ: 65,6%; nam: 48,8%). Cùng với điều này có đến 6 người phụ nữ cho rằng gia đình mình không hoà hợp (chiếm 4,5%), trong khi đó không có nam giới nào cho rằng gia đình mình không hoà hợp. Kết quả cho thấy, tỷ lệ những người phụ nữ có trình độ học vấn thấp cho rằng gia đình mình không hoà hợp hạnh phúc nhiều hơn nam giới có cùng học vấn.

2. 5. Đánh giá của người nông dân Sóc Sơn về quan hệ vợ chồng họ hiện nay

- Kết quả thống kê cho thấy phần lớn người được hỏi trả lời vợ/ chồng họ có đầy đủ những phẩm chất mà họ mong muốn (87,8%), hầu hết đều cho rằng những mối quan tâm của họ luôn được vợ/ chồng họ chia sẻ (89,7%), họ cũng rất hài lòng về đời sống tình dục với vợ/ chồng họ hiện nay (92,9%), họ không bị ép buộc trong quan hệ tình dục với vợ/ chồng họ (80,2%). Phần lớn người được hỏi trả lời vợ/ chồng họ không đánh giá thấp đóng góp của họ với GĐ (chiếm 86,4%), cũng như không coi thường họ trong cách ứng xử hàng ngày (91,3%). Có thể thấy hầu hết người nông dân Sóc Sơn hài lòng với đời sống hôn nhân của họ hiện nay, hài lòng với vợ/ chồng họ và hài lòng về đời sống tình dục của vợ chồng họ.

- Về mặt biểu lộ tình cảm với nhau trong cuộc sống hàng ngày: Gần một nửa số người được hỏi cho rằng vợ/ chồng họ không biểu lộ tình cảm với họ như họ mong muốn (41%). Có lẽ đây cũng là một trong những nét tính cách của người Việt Nam, vì người Việt Nam vốn kín đáo nên trong cuộc sống vợ chồng họ ít biểu lộ tình cảm với nhau.

- Về những cảm giác tiêu cực: Gần 1/4 số người được hỏi cho rằng họ cảm thấy khó trao đổi thảo luận một việc gì đó với vợ/ chồng của họ (chiếm 22,4%). 27,3% cho thấy họ có cảm giác lo lắng vợ/ chồng họ có thể quan tâm đến người khác. Có một tỷ lệ không nhỏ những người được hỏi cho rằng họ có cảm giác ghen tuông với vợ chồng họ khi vợ/ chồng họ có quan hệ công việc với người khác giới (16,8%). 1/4 trong số người được hỏi cho rằng họ thường cảm thấy tức giận với vợ/ chồng họ mà không biết tại sao (25,9%).

3.5. Mối tương quan giữa quan hệ tình dục vợ chồng và mức độ hài lòng về cuộc hôn nhân hiện tại và cảm nhận về sự hoà hợp hạnh phúc của GĐ người trả lời

- Bằng cách so sánh tương quan 2 biến theo điểm trung bình, kết quả thu được như sau: Có sự tương quan giữa cảm nhận về đời sống tình dục vợ chồng và đánh giá về mức độ hài lòng với cuộc hôn nhân hiện tại và đánh giá về sự hoà hợp hạnh phúc về GĐ của người trả lời . Số liệu thống kê cho thấy nếu người trả lời cảm thấy hài lòng trong quan hệ tình dục vợ chồng thì họ cũng hài lòng với cuộc hôn nhân của mình và cho rằng gia đình mình hoà hợp hạnh phúc (r = 0,185, p < 0.001). Cũng chưa chắc chắn để khẳng định là sự hài lòng về đời sống tình dục vợ chồng dẫn đến sự hài lòng về đời sống hôn nhân hay là sự hài lòng về đời sống hôn nhân dẫn đến sự hài lòng về đời sống tình dục vợ chồng, cần có thêm những điều tra về vấn đề này.
  
3. Vài suy nghĩ gợi ra từ nghiên cứu

- Từ kết quả thu được có thể nhận thấy, quan niệm truyền thống vẫn ảnh hưởng đến hành vi tình dục của người nông dân và xu hưóng tình dục của họ vẫn gắn với hôn nhân. Người dân cũng đã có ý thức về các quy định của luật hôn nhân và gia đình do Nhà nước ban hành.

- Có mối tương quan giữa cảm nhận về việc được vợ/ chồng tôn trọng trong ứng xử hàng ngày và cảm nhận về mức độ hoà hợp hạnh phúc của GĐ, tuy nhiên không phải người nông dân nào cũng ý thức được điều này. Cần có sự tuyên truyền để mọi người nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tình yêu, tình dục vợ chồng trong đời sống hôn nhân, xây dựng gia đình hạnh phúc.

- Phù Linh là một xã mặc dù đã được đô thị hoá nhưng nghề chính của người dân vẫn là làm nông nghiệp, cách suy nghĩ của họ vẫn mang nét truyền thống là chính. Trong tương lai khi tốc độ đô thị hoá cao hơn, công nghiệp phát triển hơn thì điều này cũng sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống và suy nghĩ của người dân nơi đây. Trong đề tài này, chưa khảo sát ảnh hưởng của sự phát triển xã hội tới cách suy nghĩa của người dân, cần có thêm những nghiên cứu theo hướng này.
 
Bùi Vân Anh

(Hết)